Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, sáng 6/11, Quốc hội tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường là thành viên Chính phủ đầu tiên mở đầu cho phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội.

Phát biểu khai mạc phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị các Bộ trưởng trả lời thẳng thắn, đúng trọng tâm câu hỏi, đặc biệt thể hiện trách nhiệm và có giải pháp cụ thể. Bà cho biết cuối phiên chất vấn, Quốc hội sẽ ban hành Nghị quyết để giám sát.

Chủ tịch Quốc hội cũng kỳ vọng phiên chất vấn sẽ diễn ra dân chủ, sôi nổi, đáp ứng kỳ vọng của cử tri và nhân dân. Đặc biệt, trong 3 ngày chất vấn có sự tham dự của 86 học viên lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khoá XIII.

 

Nội dung chất vấn và trả lời chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gồm: Chất lượng, hiệu quả chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Công tác quy hoạch trồng trọt, chăn nuôi với thị trường tiêu thụ; Ứng dụng khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp; công tác xuất khẩu nông sản, thủy sản; Công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh cho gia súc, gia cầm và chính sách hỗ trợ cho các hộ dân bị ảnh hưởng và hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Công tác quản lý, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, khắc phục tồn tại trong khai thác, đánh bắt hải sản trên biển.

Trong quá trình Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn, các Bộ trưởng, Trưởng ngành: Công Thương, Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Giao thông Vận tải, Lao động – Thương binh và Xã hội; Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước cùng tham gia trả lời chất vấn, giải trình về những vấn đề có liên quan.

Mở đầu phiên họp, các đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi); Châu Chắc (An Giang); Phạm Văn Tuân (Thái Bình); Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình); Bùi Văn Xuyền (Thái Bình);... chất vấn các vấn đề: Tình hình, giải pháp tăng cường thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn; giải pháp căn cơ, đột phá để bảo đảm giá lúa, xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam; giải pháp thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm, giải quyết vấn đề môi trường trong xây dựng nông thôn mới; giải pháp nâng cao kỹ năng, kỹ thuật đánh bắt hải sản; nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã; nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới thú y cơ sở; giải pháp khắc phục tình trạng "giải cứu nông sản", được mùa mất giá; mất cả mùa mất cả giá; thậm chí mất giá kéo dài (Ví dụ, cây cà phê Tây Nguyên); giải pháp phát triển bền vững ngành thủy sản...

Đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi) tại phiên chất vấn. Ảnh: TL
 

Số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp tăng 3 lần

Trả lời câu hỏi của các đại biểu Quốc hội liên quan đến giải pháp thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh vai trò hạt nhân trong liên kết sản xuất lớn. Bộ trưởng cho biết, trong 3 năm qua, số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào nông nghiệp đã tăng 3 lần, từ hơn 3.000 lên 11.800 doanh nghiệp, trải đều khắp các vùng miền và các lĩnh vực từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ nông sản; trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào lĩnh vực này để nâng giá trị sản xuất nông nghiệp,... Tuy nhiên con số này vẫn còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu, Bộ sẽ tiếp tục tập trung đẩy mạnh trong thời gian tới.

Về nâng cao giá trị lúa gạo, Bộ trưởng nhấn mạnh giải pháp cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, trong đó tập trung vào sản xuất các giống lúa mới (hữu cơ, tinh túy) hơn...

Về xây dựng nông thôn mới, Bộ trưởng nhấn mạnh 10 năm qua chúng ta đã đạt được những kết quả lịch sử, tuy nhiên so với yêu cầu, nguyện vọng của thực tế chúng ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là vấn đề về môi trường (sản xuất, tự nhiên), hình thành sản xuất lớn, sản xuất liên kết, tái cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ,... tới đây Bộ sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để khắc phục các vấn đề này.

Về khai thác hải sản, Bộ trưởng cho biết, hiện nay chúng ta có khoảng 96.000 phương tiện đánh bắt cá, trong đó có hơn 12.000 tàu công suất lớn. Tất cả tàu có công suất lớn đã được trang bị các thiết bị đánh bắt, bảo quản hiện đại. Tuy nhiên, phương tiện dưới 15 m vẫn còn lạc hậu, chưa đáp ứng nên hiệu quả chưa cao. Do đó, chúng ta cần có lộ trình trình để từng bước nâng cao hiệu quả đội tàu khai thác cá.

Liên quan đến nguy cơ biến đổi khí hậu có thể xóa sổ mọi nỗ lực xây dựng nông thôn mới, Bộ trưởng cho biết, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của hiện tượng này. 3 năm gần đây, thiệt hại với khu vực miền núi do sạt lở, lũ ống, lũ quét đang gây ra những thiệt hại nặng nề. Do đó, đang cố gắng chuẩn bị các phương án ứng phó, dự báo tốt hơn. Tới đây, chúng ta phải coi việc đầu tư bền vững cho ứng phó khí hậu là nhóm được ưu tiên nhất.

Về giải pháp khắc phục tình trạng được mùa mất giá, thậm chí mất cả mùa mất cả giá, mất giá kéo dài, Bộ trưởng nhấn mạnh giải pháp phát huy lợi thế của địa phương, tổ chức liên kết sản xuất tuân thủ theo quy luật thị trường, đặc biệt cần tập trung vào khâu chế biến, nhất là chế biến sâu và tổ chức thị trường; rà soát lại các vùng sản xuất, giảm diện tích, loại cây trồng kém hiệu quả;...

Chưa đồng tình với trả lời của Bộ trưởng, đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi)  tranh luận về giải pháp căn cơ thu hút doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nói dù số doanh nghiệp tăng lên 3 lần nhưng số tuyệt đối còn rất thấp. Ông kỳ vọng vào việc sắp tới thông qua Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) để huy động đầu tư. Bởi thực tế hiện doanh nghiệp thiếu điều kiện, nếu có khuôn khổ pháp lý tốt, đặc biệt hướng PPP sẽ tiếp làn sóng đầu tư vì nông nghiệp dù khó khăn nhưng còn dư địa và thể hiện khát vọng của doanh nghiệp.

Không ai dự báo được ngày mai giá cả thế nào

Đại biểu Ngô Thanh Danh (Đắk Nông) đặt câu hỏi Bộ trưởng có giải pháp gì về phục hồi hay chuyển đổi cây trồng vật nuôi để tránh tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa. Bởi hiện nay, cây tiêu ở Tây Nguyên mất cả mùa cả giá, cây cà phê mất giá kéo dài, hiện chỉ còn 40.000 đồng/kg?

Trả lời câu hỏi của đại biểu, Bộ trưởng cho biết, những năm gần đây Việt Nam đang tập trung tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Về tổng thể kinh tế nông nghiệp đang đi theo chiều hướng tích cực. Tổng diện tích đất canh tác cả nước chỉ có 10 triệu ha, Việt Nam đã tạo ra được mức sản xuất lương thực 45 triệu tấn, 5,5 triệu tấn thịt, 8 triệu tấn cá, một số loại cây công nghiệp đứng đầu thế giới về sản lượng.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng bất cập lớn nhất của chúng ta là khâu chế biến và tổ chức thương mại. Thời gian tới, nếu không tập trung cải thiện khâu chế biến thì không thể dập được tình trạng “hôm nay được, mai mất”. “Nền kinh tế thị trường cũng rất khó, không ai dự báo được mai, ngày kia giá cả như thế nào. Giá vàng, giá dầu hỏa còn biến động. Vì vậy, phải trên một cục diện chung để định hướng.”- Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường trả lời.

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, ở Tây Nguyên có 5 triệu ha đất, có 5 cây công nghiệp nhưng những giai đoạn trước phát triển quá nóng. Riêng Việt Nam, sản lượng hồ tiêu đã là 350.000 tấn, chiếm 60% sản lượng của thế giới, mà chỉ phát triển trong vòng 7 năm, là quá thừa. Vì vậy, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, thời gian tới Bộ và các ngành sẽ tập trung chế biến. Bởi nếu không đi vào chế biến thì câu chuyện thừa, thiếu, được mùa mất giá vẫn liên tục xảy ra. Bên cạnh đó, tổng rà soát lại, nhằm phát triển các ngành lợi thế.

“Cây tiêu chỉ dừng ở mức độ nào, chứ không thể đến mức 150.000 ha, bởi theo quy hoạch đến năm 2020 chỉ có 55.000 ha. Những diện tích không hiệu quả, kém canh tác phải giảm, nhường chỗ cho cây chủ lực khác”- Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nêu rõ.

Đồng thời, thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung kêu gọi các doanh nghiệp vào liên kết chặt chẽ, tổ chức chế biến. “Riêng ngành hồ tiêu sẽ ra 10 chuỗi sản phẩm. Phối hợp với các ngành bàn quyết liệt, cố gắng không riêng cây tiêu, cây công nghiệp mà các cây khác sẽ đi sâu vào chế biến và tổ chức thị trường”- Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nói.

Đại biểu Ngô Thanh Danh (Đắk Nông) tại phiên chất vấn. Ảnh: ĐT

Đại biểu Ngô Thanh Danh cũng phản ánh tình trạng giá cà phê, hồ tiêu,… bấp bênh, đời sống bà con ở Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn, đề nghị được trợ giá, Bộ trưởng nêu thực tế: Một trong những nguyên nhân làm cho đời sống bà con bấp bênh là do tổ chức sản xuất kém hiệu quả, do vậy cần tập trung kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào, cùng với bà con liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

Về giải pháp khắc phục tình trạng “giải cứu” nông sản, Bộ trưởng cho biết, năm nay là năm khó khăn nhất nhưng trên các trục sản phẩm lớn của chúng ta đều tổ chức liên kết đáp ứng được chuỗi từ sản xuất, bảo quản, chế biến và phát triển thị trường. Chúng ta sẽ hoàn thành được mục tiêu cao nhất từ trước đến nay, nhất là 10 sản phẩm trụ cột từ 1 tỷ USD trở lên. Còn những ngành hàng nhỏ, chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện các chuỗi giá trị. Ví dụ như Bắc Giang, gà đồi Yên Thế bán rất tốt, ở Sơn La quả xoài xuất khẩu ra quốc tế rất tốt, Bộ trưởng dẫn chứng.

Người Việt Nam cũng có quyền ăn những sản vật ngon

Trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Phương Tuấn (Ninh Bình) về giải pháp gì hỗ trợ ngư dân bảo quản tốt sản phẩm cá ngừ đại dương để sản phẩm này là xuất khẩu chủ lực của Việt Nam?, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh hiện nay cá ngừ là sản vật khai thác ở vùng biển của ta, đã có giá trị xuất khẩu lên đến 650 triệu USD. “Đây là sản phẩm rất có giá trị, tôi đồng ý với đại biểu nếu có giải pháp thì sẽ còn cho giá trị cao hơn”, ông Cường nói.

Nêu một mô hình làm tốt ở Khánh Hòa, nhưng theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, mô hình tiên tiến chưa được áp dụng đại trà. Nếu làm tốt chúng ta có thể nâng cao gấp đôi, thậm chí gấp ba giá trị xuất khẩu của cá ngừ. Ông nhấn mạnh cần tập trung vấn đề công nghệ chế biến và liên kết tổ chức sản xuất, như ở Khánh Hòa có liên kết của ngư dân với 145 tàu, khi đánh bắt được cá ngừ sẽ có tàu chở về để chế biến ngay. Bộ trưởng cho rằng cần tổ chức chuỗi khai thác trên biển, tập trung công nghệ chế biến và phát triển thị trường.

“Đi đôi với mở rộng thị trường xuất khẩu, hãy nhớ phục vụ thị trường hơn 96 triệu dân của Việt Nam vì chúng ta có quyền ăn những sản vật ngon”, ông Cường nói và cảm ơn đại biểu đã hỏi câu hỏi này để Bộ nhìn thấy vấn đề, từ đó sẽ có giải pháp chú trọng hơn.

55 tàu đóng mới nằm bờ

Đại biểu Phan Thanh Bình (Quảng Nam) chất vấn về những bất cập trong hoạt động đánh bắt xa bờ của ngư dân và việc các tàu đóng mới hoạt động không hiệu quả, xuống cấp nhanh, nhiều tàu dừng hoạt động, không duy tu dẫn tới nợ xấu.

Trả lời câu hỏi của đại biểu về vấn đề này, Bộ trưởng Cường cho hay Nghị định 67 Chính phủ ban hành năm 2014 được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam rất cần ngư dân vươn ra các ngư trường xa để đảm bảo phát triển kinh tế cùng với đảm bảo an ninh quốc phòng của quốc gia. 

Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, đến nay, chúng ta đã phát triển được 1.030 phương tiện công suất lớn trên 80 mã lực, trong đó có 358 chiếc tàu sắt là loại hình đóng mới. Hiện nay, còn 55 tàu đóng mới nằm bờ nhưng không ra khơi được do nhiều nguyên nhân như đánh bắt không hiệu quả, chủ tàu chết, một số chủ tàu không có điều kiện hoạt động, hay chủ tàu không tích cực tham gia. Các chủ tàu đến kì bảo dưỡng nhưng không đem đi bảo dưỡng.

“Trước tình hình này, chúng tôi đã tham mưu, Thủ tướng đã có nhiều quyết sách. Về tiềm năng ngư trường chúng ta không khuyến khích nhiều nữa, phương án hỗ trợ tín dụng 11 năm không còn phù hợp, nên phải thay đổi”, ông Cường nói.

Từ 2018 đến nay, chúng ta đã chuyển đổi sang loại hình hỗ trợ người dân đủ điều kiện khai thác để đóng tàu. Thủ tướng cũng chỉ đạo 28 tỉnh tổng kết chương trình 67, từ đó đưa ra các chính sách, phương pháp mới thay thế những gì không phù hợp.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường ghi nhận phát hiện của đại biểu, nhất là công tác trục lợi chính sách mà cụ thể là Nghị định 67. Bộ sẽ yêu cầu các tỉnh rà soát lại.

Còn đối với các giải pháp về quản lý, cần phải quản chặt thiết bị định vị. Nếu phát hiện sai phạm thì không cấp phép cho các tàu ra khơi nữa. Bên cạnh đó, nếu phát hiện Chi cục thủy sản nào móc nối với ngư dân để rút tiền ngân sách hỗ trợ thì phải xử lý nghiêm khắc.

Bổ sung cho phần trả lời của Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết: Đối với việc triển khai Nghị định 67, sau khi làm việc với các địa phương, chúng tôi đã tiếp tục báo cáo Thủ tướng để triển khai. Trong thẩm quyền của mình, chúng tôi đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho nhiều nông dân vay vốn, thực hiện cơ chế hỗ trợ để chuyển đổi chủ tàu. Cuối tháng 10, chúng tôi đã báo cáo Thủ tướng chỉ đạo các đơn vị liên quan tổ chức lại sản xuất hiệu quả bền vững hơn, và kiến nghị UBND các tỉnh, thành tập trung phối hợp với ngân hàng để rà soát các trường hợp. Những trường hợp bất khả kháng thì cơ cấu lại nợ, còn đối với các trường hợp chây ỳ, thì sẽ kiên quyết thu hồi nợ.

Với các giải pháp này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương và ngân hàng cùng phải vào cuộc để giải quyết tốt hơn, Thống đốc Lê Minh Hưng nói.

Quyết liệt ngăn chặn dịch tả lợn châu Phi

Trả lời chất vấn các đại biểu về công tác phòng chống dịch tả lợn châu Phi, Bộ trưởng cho biết, dịch tả lợn châu Phi là dịch bệnh lịch sử xảy ra đối với ngành chăn nuôi Việt Nam và chăn nuôi thế giới. Chưa bao giờ ngành chăn nuôi phải đối mặt với dịch bệnh gây tác hại lớn như thế.

Ông dẫn chứng, 100 năm nay, thế giới không sản xuất được vắc xin, vì trước biến đổi của khí hậu thì dịch bệnh này lây lan rất nhanh. Thậm chí có tài liệu còn công bố 30% đàn lợn của thế giới bị chết vì dịch tả lợn châu Phi, từ đó tạo ra một cuộc khủng hoảng về thịt lợn trước nay chưa từng có.

Đối với Việt Nam, kể từ khi biết tin Trung Quốc bùng phát dịch tả lợn châu Phi, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan, các địa phương liên quan đã diễn tập ứng phó với dịch này. Nhưng do tính chất phức tạp của loại dịch này nên chỉ trong thời gian ngắn dịch đã lây lan ra toàn quốc. Đến nay, chúng ta phải tiêu hủy 5,7 triệu con lợn, chiếm hơn 8% tổng đàn lợn của Việt Nam.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai các giải pháp ứng phó, khống chế dịch bệnh và đến nay, dịch bệnh đang có xu hướng giảm. Nếu tháng 6 là tháng đỉnh điểm, chúng ta phải tiêu hủy 1,2 triệu con lợn, thì đến nay chúng ta chỉ phải tiêu hủy 40.000 con. Tín hiệu vui là nhiều xã đã trải qua 30 ngày mà dịch không quay trở lại.

Có được thành tích trên là cả hệ thống chính trị vào cuộc, thậm chí Thủ tướng Chính phủ còn đến tận ổ dịch để chỉ đạo. Đồng thời, Thủ tướng cũng yêu cầu phải có ngay chính sách hỗ trợ theo giá thành của sản xuất và yêu cầu chuẩn bị sẵn để xây dựng kịch bản tái đàn khi dịch bệnh lắng xuống.

Tổ chức Thú y thế giới cũng đánh giá chúng ta rất minh bạch thông tin về dịch tả lợn, không giấu giếm để đề ra giải pháp. Còn nhiều quốc gia khác thì giấu giếm, nên không thể biết được tình hình thực tế về dịch tả lợn Châu Phi là như thế nào.

Đến nay, chúng ta vẫn giữ được 109.000 con lợn cụ kỵ, đây là hạt nhân để phát triển đàn lợn sau này.

Bộ trưởng cho biết thêm, cách đây 3 tuần, đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đi Khoái Châu, Hưng Yên. Địa phương này có nhiều hộ chăn nuôi tới 3.000 - 4.000 con lợn, chuồng trại được giữ gìn vệ sinh rất sạch, bảo đảm an toàn sinh học nên không bị ảnh hưởng gì. Thậm chí, có nông dân còn dùng cả tia cực tím để tiêu độc khử trùng, nên nhiều gia đình không những không thiệt hại mà còn làm giàu từ chăn nuôi lợn./.

 

 

 

Theo: Dangcongsan.vn