vvvvvvvvvv

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Hình ảnh hoạt động

TP-Hoabinh

Liên kết Website

Lịch

Tháng 10 2017
CTTTTTT
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031
thu dien tu
VAN BAN PHAP QUY
CONG THONG TIN

HOI DAP

Phong GDDT

BDT Dang CS

 CongthongtinCP

BaoNhandan

vietnamplus

Thống kê truy cập

8610907
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
990
1705
14928
8578900
54751
68793
8610907

Your IP: 192.168.51.1
Server Time: 2017-10-22 15:24:24

Thực trạng phát triển Kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Lạc Sơn

1. Thực trạng phát triển kinh tế trên địa bàn huyện

1.1. Tổng quan về phát triển kinh tế huyện Lạc Sơn 

1.1.1- Trình độ phát triển

Lạc Sơn là huyện trung du, miền núi phía Nam tỉnh Hòa Bình. Là huyện giàu tiềm năng về đất đai, lao động và có điều kiện phát triển một số ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm sản.Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006- 2010 toàn huyện đạt 11,3%/năm, cao hơn giai đoạn 2001 - 2005 (10,3%/năm). Năm 2010, tổng giá trị sản xuất (GTSX) trên địa bàn Huyện là 1.483 tỷ đồng, đạt mức GTSX bình quân đầu người 11,3 triệu đồng/người (GTGT là 7,5 triệu đồng/người). Xét về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn chiếm trên 50% trong tổng GTSX toàn huyện; tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ tương ứng 27,9% và 21,1%.

1.1.2. Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 10,3%/năm; giai đoạn 2006 - 2010 tăng lên 11,3%/năm. Trong đó, các năm 2007, 2008, tốc độ tăng trưởng trên địa bàn Lạc Sơn là đặc biệt cao, tương ứng đạt 14,5% và 22,9%. Mặc dù vậy, cũng trong giai đoạn này, xen kẽ giữa các năm có tốc độ tăng trưởng cao là các năm huyện có tốc độ tăng chậm như năm 2006, 2009 với tốc độ tăng trưởng dưới 6%. Đóng góp cho tăng trưởng giai đoạn 2006 – 2010 vừa qua là sự phát triển vượt bật của các lĩnh vực công nghiệp và thương mại, dịch vụ. Trong đó, ngành công nghiệp có tốc độ tăng bình quân 16,8%/năm; ngành thương mại - dịch vụ tăng đến 37,5%/năm. Ngành nông nghiệp 2,58%/năm; Ngành xây dựng 17,4%/năm.

1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sau một thời gian dài ổn định ở mức thấp, khoảng 10 - 11%, tỷ trọng ngành dịch vụ đã có sự vươn lên từ năm 2008 và nay giao động khoảng 20% trong GTSX toàn huyện. Tiếp sau giai đoạn 2000 - 2005, tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng có xu thế tăng mạnh, thì giai đoạn 2006 - 2010 tỷ trọng chiếm trong GTSX toàn huyện lại giảm nhẹ (từ 30,7% năm 2006 xuống 27,9% năm 2010). Nông nghiệp là ngành có tỷ trọng giảm mạnh nhất, liên tục từ mức 76,6% năm 2000 xuống còn 51% năm 2010, một phần do tăng trưởng các ngành khác tăng khá nhưng lý do khác là do GTSX ngành ngành nông nghiệp giai đoạn vừa qua không những không tăng mà còn giảm xuống. So với mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2006 - 2010 đề ra (Nông nghiệp 56%; Công nghiệp 17%; và dịch vụ 27%) thì kết quả thực hiện ở trên có thể coi là hoàn thành vượt kế hoạch.

1.1.4. Thu ngân sách và khả năng đảm bảo nhu cầu chi ngân sách trên địa bàn

Số thu ngân sách trên địa bàn tăng 3 lần trong giai đoạn 2006 – 2010, (Năm 2010 mới đạt 15,2 tỷ đồng). Kết quả thu này hiện mới giúp huyện tự đảm bảo được từ 5 – 6,5% nhu cầu chi trên địa bàn. Số chi ngân sách tăng, năm 2010 con số thực hiện là trên 257 tỷ đồng. Tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển lại giảm mạnh, từ gần 9% năm 2005 xuống chỉ còn 3,4% năm 2010.

1.2. Thực trạng phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 

Hiện tại, với sự tham gia của 80% lực lượng lao động và đóng góp trên 50% GTSX, nông nghiệp vẫn là ngành có vị trí quan trọng nhất của Lạc Sơn. Năm 2010, sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 60.000 tấn, bình quân 400- 460 kg/người/năm, tổng GTSX của ngành đạt trên 783 tỷ đồng, Lạc Sơn là huyện có sản lượng lương thực cao nhất tỉnh.

1.2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

a. Tăng trưởng GTSX

Giai đoạn 2001 - 2005, tăng trưởng khá, bình quân 4,9%/năm; giai đoạn 2006 – 2010 tăng trưởng ngành nông nghiệp Lạc Sơn đạt thấp, nếu không tính con số giảm mạnh về GTSX năm 2007 (do ngập úng), thì tăng trưởng bình quân của ngành chỉ đạt 2,58%/năm. Ngoại trừ tốc độ tăng trưởng dự kiến 2010 đạt khá (5,1%), các năm còn lại tăng trưởng GTSX nông nghiệp đều có mức tăng dưới 3%, cá biệt năm 2007 giảm 11,6%; năm 2006 là 0%.

Chăn nuôi là ngành duy nhất trong nông nghiệp giai đoạn vừa qua có tăng trưởng khá. Sau hai năm: 2007, 2008, do điều kiện bất lợi (năm 2007 bị ngập úng và 2008 bị rét đậm), ngành này bị giảm mạnh thì đến năm 2009 nông nghiệp đã phát triển mạnh trở lại. Riêng ngành lâm nghiệp có mức giảm mạnh, lên đến -12,8%/năm; ngành thủy sản cũng giảm 4,9%/năm do nuôi trồng chậm đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất. Nếu không tính sự sụt giảm bất thường năm 2007, tính chung giai đoạn 2006 – 2010, chăn nuôi có tốc độ tăng trưởng bình quân lên đến trên 21%/năm; ngành trồng trọt giảm nhẹ, các ngành còn lại lâm nghiệp và thủy sản đều tăng chậm.

b. Chuyển dịch cơ cấu

- Về cơ cấu ngành sản xuất:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp những năm từ 2000 trở lại đây diễn ra với xu hướng không rõ ràng. Trong đó, ngành trồng trọt giao động không ổn định, từ 67,3% năm 2000 giảm nhẹ xuống còn 66,5% năm 2005 và tăng nhẹ trở lại 68% năm 2010. Đáng lưu ý nhất trong cơ cấu ngành trồng trọt của huyện là sự tăng khá của ngành chăn nuôi: từ 18,8% năm 2000 lên 23,7% năm 2005 và 28% năm 2010 và sự giảm xuống mạnh về tỷ trọng của ngành lâm nghiệp.

Về cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo vùng: Do có sự khác biệt khá lớn về địa lý, địa hình nên hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện cũng có sự khá biệt khá lớn giữa các vùng lãnh thổ. Mặc dù vậy, cũng do sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nói chung còn chậm nên về cơ bản không có sự thay đổi nhiều trong cơ cấu sản xuất theo vùng.

1.2.2. Ngành trồng trọt:

Hiện tại ngành trồng trọt chiếm 68% trong tổng GTSX ngành nông nghiệp. Những năm vừa qua, do được đầu tư thâm canh, tăng vụ, xây dựng mới các công trình thủy lợi và thực hiện chương trình đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất phần nào giúp nâng cao hiệu quả sản xuất. Tính chất ngành trồng trọt từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa. So với năm 2000, diện tích các cây trồng chính năm 2010 như ngô, rau, lạc đều tăng với mức tăng khá, cây lúa giảm nhẹ. Về sản lượng, so với năm 2000 sản lượng tất cả các cây trồng đều tăng, tăng trưởng cao nhất là cây Sắn (tăng gần 4 lần), đậu xanh (gần 3 lần) Lạc (trên 2 lần),...

1.2.3. Ngành chăn nuôi:

Trong 5 năm vừa qua trong khi GTSX ngành nông nghiệp không tăng, thì riêng ngành chăn nuôi đã tăng khá, từ 40.726 triệu đồng năm 2000 lên 48.421 năm 2005 và lên đến 64.017 triệu đồng (giá 1994) năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001- 2005 là 3,5%/năm và giai đoạn 2006- 2010 là 5,7%/năm và chiếm tỷ trọng 28% trong GTSX ngành nông nghiệp của huyện. Ngành chăn nuôi bước đầu phát triển theo hướng khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên của huyện và hướng sang sản xuất hàng hoá. Quy mô đàn trâu và gia cầm có xu hướng giảm thì đàn bò, lợn lại đang tăng lên, mô hình phát triển chủ yếu vẫn là trong các hộ gia đình.

1.2.4. Ngành lâm nghiệp

Tuy diện tích đất lâm nghiệp được duy trì ổn định nhưng trong vòng 5 năm, từ 2006 đến 2010, GTSX ngành lâm nghiệp giảm rất mạnh (50%), từ mức trên 23,3 tỷ đồng xuống còn 11,7 tỷ đồng (giá 1994). Điều này làm cho tỷ trọng ngành này trong GTSX nông nghiệp giảm mạnh, từ 7,9% xuống chỉ còn 1,8% năm 2010. Cho đến nay diện tích đất rừng tự nhiên hầu như không còn trong khi vẫn còn một bộ phận đáng kể diện tích đất trống, đồi núi trọc.

1.2.5. Ngành nuôi trồng thuỷ sản:

Toàn huyện có tổng diện tích chuyên nuôi trồng thủy sản hơn 300ha, được phân bố chủ yếu ở các xã vùng thấp (200ha). Một số diện tích nuôi cá theo mô hình: 1 lúa + 1 cá. Năm 2010, thủy sản đạt GTSX 14,3 tỷ đồng (giá hiện hành) nhưng nếu so với năm 2006, GTSX của ngành đã giảm khoảng 30%, với tỷ lệ giảm bình quân 4,9%/năm.

1.3. Thực trạng phát triển ngành công nghiệp và xây dựng 

1.3.1. Tăng trưởng và cơ cấu sản phẩm Công nghiệp – Xây dựng

-                      Giá trị sản xuất.

Giá trị sản xuất của lĩnh vực CN-XD của huyện Lạc Sơn năm 2010 đạt 275,13 tỷ đồng, gấp 2.28 lần so với năm 2005, chiếm 36,68% GTSX kinh tế của toàn huyện. Xét riêng lĩnh vực CN thì GTSX của lĩnh vực CN-TTCN của Lạc Sơn còn chiếm tỷ trọng thấp, năm 2010 chiếm khoảng 38,49% GTSX của toàn huyện.

-                      Tốc độ tăng trưởng:

Trong giai đoạn 5 năm vừa qua tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành CN-XD đạt 23,02%. Tốc độ tăng trưởng của CN- TTCN trong giai đoạn 2005-2010 bình quân đạt 14,82%/năm. Năm 2007 có tốc độ tăng trưởng 148% so với năm 2006; Năm 2008 giảm 39,11% so với 2007.

-                      Cơ cấu sản phẩm.

Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện chủ yếu là do nhóm ngành chế biến thực phẩm chiếm 43,01% (năm 2010), tiếp đến là sản xuất gạch với tỷ trọng là 25,66 %. Nhóm ngành có tỷ trọng thấp nhất là cơ khí chỉ chiếm có 1, 91%. Ngành có tỷ trọng thay đổi nhiều nhất là ngành may mặc (tỷ trọng giảm 7,87% so với năm 2005); ngành chế biến thực phẩm có tỷ trọng tăng thêm 2,1%, ngành CN khác tăng 3,59%.

1.3.2. Tiểu thủ công nghiệp và Làng nghề.

Các nghề người dân hiện nay đang làm trong những lúc nông nhàn chủ yếu là tự phát như: nghề may, giang đan, thổ cẩm ở xã Văn Sơn, Nhân Nghĩa, Xuất Hóa, thợ nề ở xã Yên Phú… Nguyên liệu để sản xuất chủ yếu là lấy tại chỗ và đã giải quyết được việc làm cho những lao động nữ ở địa phương (15% lao động nữ). Bên cạnh đó nghề thủ công đã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.

1.3.3. Hiện trạng phát triển các cụm công nghiệp.

(1). Cụm công nghiệp Khoang U: Thuộc địa phận xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, với diện tích quy hoạch 20ha, dự kiến lĩnh vực kinh doanh trong CNN là đa ngành nghề. Hiện đã có nhà máy chế biến tinh bột Sắn hoạt động do Công ty TNHH Thương mại và đầu tư Yên Bình sản xuất với số vốn đầu tư 74 tỷ đồng, đảm bảo năng suất giai đoạn 1 là 25 tấn sản phẩm/ngày tương đương với 50 tấn sắn nguyên liệu; giải quyết công ăn việc làm cho 200 lao động tại địa phương.

(2). Cụm công nghiệp Đầm Đuống- Tân Mỹ: Thuộc địa phận xã Tân Mỹ và xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, với diện tích đất quy hoạch là 80 ha, dự kiến lĩnh vực kinh doanh trong CNN là đa ngành nghề. Hiện nay đang có nhà máy gạch Tuy nen do Công ty Sơn Thạch sản xuất, hoạt động với công suất 30 triệu viên /năm.

(3). Cụm CN Xóm Cháy – Liên Vũ: Diện tích đất Cụm công nghiệp là 5ha. Hiện nay đã có Nhà máy gạch Tuy Nen hoạt động với tổng mức đầu tư ban đầu là 40 tỷ đồng.

1.4. Thực trạng phát triển các ngành Thương mại, dịch vụ 

1.4.1. Tăng trưởng và cơ cấu ngành Thương mại, dịch vụ.

a) Tăng trưởng GTSX.

Trong những năm vừa qua, ngành dịch vụ trên địa bàn huyện có GTSX liên tục tăng từ 39,392 triệu đồng năm 2005 lên đến 194,86triệu đồng vào năm 2010, cao gấp 4,94 lần năm 2005. Tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân khoảng 37,67%, riêng năm 2008 có tốc độ tăng trưởng 227% so với năm 2007. Sự đột biến trong tăng trưởng của năm 2008 là do năm 2008 có hơn 1.310 hộ dân đăng kí kinh doanh mới trong lĩnh vực thương mại, đưa số hộ dăng kí kinh doanh năm 2008 lên tới 2.869 hộ.

b) Chuyển dịch cơ cấu ngành.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành dịch vụ từ năm 2005 đến nay diễn ra với xu hướng khá rõ ràng. Trong đó, ngành thương mại giao động từ 82,1% năm 2005 giảm nhẹ xuống còn 75,4% năm 2007 và tăng nhẹ trở lại 78,7% năm 2008, tuy nhiên đến năm 2010 lại giảm xuống còn 71,5%. Điểm thay đổi đáng lưu ý nhất trong cơ cấu ngành dịch vụ của huyện là sự tăng khá của lĩnh vực nhà hàng khách sạn: từ 2,9% năm 2005 lên 12,3% năm 2010.

1.4.2. Thương mại.

a) Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ.

Trong 5 năm vừa qua cùng với sự gia tăng nhanh của GTSX ngành dịch vụ, lĩnh vực thương mại cũng tăng nhanh chóng với tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ từ 110,68 tỷ đồng năm 2005 lên 280,3 tỷ đồng năm 2010.

b) Hệ thống chợ và các cửa hàng bán lẻ.

Hiện nay tại huyện đã có 15 chợ tăng 36,37% so với năm 2000 với 626 hộ kinh doanh cố định và 1274 hộ kinh doanh lưu động. Hiện trạng hệ thống chợ hiện nay của huyện có 01 chợ loại II và 14 chợ loại III

Cùng với sự tồn tại của hệ thống chợ truyền thống, hệ thống cửa hàng bán lẻ trên địa bàn cũng được xây dựng và phát triển, góp phần đa dạng hoá các hình thức phục vụ nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của người dân.

1.4.3. Dịch vụ

a) Vận tải.

- Giao thông cứng: ở Lạc Sơn chỉ có một loại hình vận tải là đường bộ. Trên địa bàn huyện hiện có 1 bến xe là bến xe Vụ Bản đã được nâng cấp và sửa chữa có thêm 04 điểm quay đầu xe đón khách.

- Hệ thống phương tiện giao thông: Hiện nay trên địa bàn huyện hàng ngày có các chuyến xe khách xuất bến từ huyện Lạc Sơn đi vào nội, ngoại tỉnh. Ngoài ra còn có các đầu xe vận tải hàng hóa của các doanh nghiệp và hộ gia đình cũng như hệ thống xe buýt Hòa Bình –Lạc Sơn.

GTSX lĩnh vực vận tải năm 2010 tăng 6,17 lần so với năm 2005 chiếm 7,8% so với tổng GTSX của ngành dịch vụ. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực vận tải tăng không đều giữa các năm: năm 2008 tốc độ tăng trưởng đạt 88.18% cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung là 45,91%

b) Nhà hàng, khách sạn.

Tại Huyện Lạc Sơn hiện nay chưa có hệ thống khách sạn nào mà chỉ tồn tại dưới dạng nhà nghỉ và tập trung chủ yếu ở Thị trấn Vụ Bản. Đến năm 2009, số lượng nhà nghỉ trên địa bàn là 3, với 30 phòng nghỉ.

Về hệ thống nhà hàng: Các nhà hàng của huyện Lạc Sơn tập trung chủ yếu ở thị trấn Vụ Bản và tồn tại dưới quy mô nhỏ của các cá thể kinh doanh. Số lượng nhà hàng tăng lên lên tục qua các năm

Tương ứng với việc tăng quy mô về số lượng nhà hàng với khách sạn thì GTSX của lĩnh vực này cũng tăng lên nhanh chóng, GTSX năm 2006 chỉ đạt 1.953 triệu đồng; năm 2010 đã tăng lên 23.731 triệu đồng gấp 12,15 lần so với năm 2006 và chiếm 12,3% tổng GTSX của ngành dịch vụ của huyện. 

c) Du lịch

Lạc Sơn là một huyện có tiềm năng về phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tâm linh... Hiện nay Lạc Sơn đang có một số định hướng có thể phát triển du lịch như:

- Khu di tích lịch sử Chiến khu cách mạng tại Mường Khói.

- Giới thiệu nôi văn hóa của Hòa Bình tại Hang Khụ Trại (có hạt thóc ngàn năm)

- Suối khoáng nước nóng tại xã Quý Hòa kết hợp với du lịch Tâm Linh tại xã Quý Hòa

- Du lịch đi bộ dọc theo tuyến của vùng đệm Cúc Phương qua các xã Ngọc Sơn, Ngọc Lâu và Tự Do.

d) Tài chính, ngân hàng.

Hệ thống hi nhánh của các ngân hàng, và quĩ các tín dụng hoạt động bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có 1 chi nhánh ở thị trấn và 2 điểm giao dịch trên địa bàn các xã; Ngân hàng Chính sách Xã hội. Hoạt động ngân hàng, tín dụng đã bám sát mục tiêu, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế và các hộ nông dân thực hiện sản xuất kinh doanh góp phần xóa đói giảm nghèo.

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH
Số giấy phép: Số 04/GP-STTTT, cấp ngày: (19/01/2015) - Chịu trách nhiệm chính: Bùi Văn Chanh - Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn,  tỉnh Hòa Bình - Điện thoại: (02183.861.268 - Fax : 02183.861.860)
Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (http://lacson.hoabinh.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này. 
http://1tour.vn http://1tour.vn/khach-san/tour du lichkhach san da latkhach san da nangkhach san nha trangkhach san vung taukhách sạn hà nộikhách sạn sapakhach san sai gonkhach san phan thietkhach san phu quoctour sapadu lich sapadu thuyền hạ long,tour du lich ha longtour ha longtour ha noi ha long tour ha long 1 ngay du thyền bhaya